
(Diemchuantuyensinh.com) Văn mẫu lớp 9: Phân tích nhân vật Vũ Nương
trong “chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
HƯỚNG DẪN
1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi
tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo
cách của mình miễn là hợp lí.
2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do
tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó
tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm.
Đề: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ.
BÀI THAM KHẢO:
“Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm văn xuôi có giá trị của văn học cổ nước ta
ở thế kỉ XVI, một tập truyện văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Hán ở Việt Nam .
“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tác phẩm truyền kì mạn lục là
một tác phẩm hay trong tập truyện đó. Nhân vật chính là vũ nương, một phụ nữ
đẹp người, đẹp nết đã phải lấy cái chết để minh oan trước sự ghen tuông vô cớ
của chồng mình.
Có thể nói Nguyễn Dữ là tác giả văn xuôi tiêu biểu của văn học cổ thế kỉ XVI.
Hình ảnh người con gái Nam Xương là nhân vật từng có ảnh hưởng sâu sắc đến lòng
người mọi thời. Lê Thánh Tông đã từng xúc động viết trong bài thơ “miếu vợ
chàng Trương”:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khỏi hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương... “
Câu chuyện về Vũ Nương phản ánh cuộc đời đau khổ và bi thảm của Vũ nương -
người phụ nữ dưới chế độ xã hội phong kiến. Người vợ phải tự vẫn để minh oan
cho sự thuỷ chung của mình. Tác phẩm nêu cao chủ nghĩa nhân đạo khiến ta xúc động
khi về nhân vật Vũ Nương trong truyện.
Trước hết, đọc truyện, người đọc càng thương cho thân phận Vũ Nươn và dễ dàng
nhận thấy được Vũ Nương là một người phụ nữ nết na, đức hạnh, đối xử với mẹ
chồng và chồng rất phải đạo và là người vợ rất mực đảm đang, nhân hậu, giàu đức
khiêm tốn.
Có tư dung tốt đẹp, nhưng trong cuộc sống gia đình, nàng can tâm làm một người
vợ hiền, ngoan nết “chẳng lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”, và cho dù Trường
Sinh, chồng của nàng, tuy là con nhà hào phú, lại ít học, đa nghi quá sức.
Sự khiêm nhường, cam chịu của Vũ Nương là điều kiện tạo nên sự đầm ấm của gia
đình, mặc cho chế độ nam quyền độc đoán đè nặng trong đầu óc kẻ vị kỉ ít học
như chồng mình.
Nếu lấy sự kiện ngày Trường Sinh đi lính thú thì hạnh động và lời lẽ đưa tiễn
chồng của người vợ hiền, lời thiết tha cầu mong của Vũ Nương: “Chẳng mong chàng
ái gấm trở về quê cũ, chỉ mong được hai chữ bình yên thế là đủ rồi”..., “thư
tính, nghìn hàng, áo rét gửi người ải xa...”, “ là chi tiết cho cái
“công-dung-ngôn-hạnh” mà Vũ Nương đã làm được một cách chân thành.
Thế rồi, nỗi nhớ nhung, sự cô đơn, giữ mình của người vợ trẻ càng khiến chúng
ta phải ca ngợi con người nhân hậu và đảm đang đó. Tính cách cao đẹp của Vũ
Nương còn là lòng hiếu thảo với mẹ chồng, lòng chung thuỷ son sắt với chồng của
nàng.
Khi chồng vào lính, Vũ Nương một mình đảm đang, nuôi dạy con thơ, chăm sóc
thuốc thang cho mẹ chồng đau yếu, làm ma chay tống tang khi mẹ chồng qua đời.
Vũ nương giữ tròn hiếu đạo với mẹ chồng, giữ tròn tình nghĩa với chồng.
Cái thói đời xưa nay thường không thể hoà hợp giữa mẹ chồng nàng dâu, nhất là
trong gia đình phong kiến. Thế nhưng, dù chỉ có hai mẹ con sống với nhau (Vũ
Nương với mẹ chồng) nhưng nàng xem mẹ chồng như mẹ đẻ, điều đó còn được thể
hiện qua lời trăng trối của mẹ chồng nàng trước khi bà qua đời: “xanh kia sẽ
chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ ... “
Rồi sự chu đáo của Vũ Nương trong việc ma chay, cúng lễ đã thể hiện tấm lòng
thơm thảo của người con dâu đáng quý như Vũ Nương. Lòng chung thuỷ của Vũ Nương
còn được thể hiện ở hành động nuôi con, chờ chồng suốt những tháng ngày Trương
Sinh đi lính mà chưa rõ mặt con. Chỉ có hai mẹ con côi cút đùm bọc, gắn bó. Cậu
Bé Đản thơ ngây, đêm đến được mẹ chỉ vào cái bóng của mình trên tường gọi là
cha (đó là một cách dỗ dành con ngủ thật hồn nhiên nhưng sau đó lại là nguyên
nhân gây ra cái tội thậtt vô tình).
Nôi hàm oan không được quyền nói, suy xét cho ra là bởi con người độc đoán,
phàm phu lại kém văn hoá như Trương Sinh khi chàng ra lính trở về (nghe lời đứa
con non dại) đã gây nên nỗi oan tày trời cho Vũ Nương. Bị chồng ghen tuông vô
cớ, bao nhiêu lời giãi bày của vũ Nương và lời khuyên ngăn của láng giềng, bà
con, cô bác, trương Sinh vẫn không tin và đinh ninh là “vợ hư” , mối nghi ngờ
càng ngày càng lún sâu không có cách gì gỡ ra được. Chàng mắng nhiếc vợ thật
thậm tệ rồi “đánh đuổi nàng đi”. Vũ Nương không hề có lỗi lầm gì, nàng thuỷ
chung, trinh trắng, đức hạnh vẹn toàn nhưng sự đối xử của chồng làm cho nàng
hoàn toàn thất vọng, không hiểu nỗi oan khuất từ đâu mà ra. Không có cách nào
để giãi bày, thất vọng bởi hạnh phúc - niềm vui “nghi gia nghi thất” không còn
nữa, nàng phải tìm đến cái chết để minh oan. Hành động tự vẫn là thái độ cuối
cùng nàng được phép bởi không thể giải bày được với chồng, tiết hạnh của nàng
sẽ bị hoen ố, biết bao giờ phai mờ đi trong tâm trí của chồng.
Một người vợ hiền lành, đầy tiết nghĩa, thuỷ chung phải chết dẫu không có tội
tình gì. Mãi đến sau cái chết đo, người chồng mới hiểu nỗi oan ức của vợ mình.
chính sự độc đoán của người đàn ông trong gia đình Phong kiến mà Nho giáo nuôi
dưỡng dung túng là đề tài mà Nguyễn Dữ muốn phê phán.
Bởi không chỉ hình ảnh nhân vật Vũ Nương, mà còn biết bao thân phận phụ nữ “Bảy
nổi, ba chìm” đã phải sống trong cảnh đời như vậy:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Cái chết của Vũ Nương là số phận, nhưng cũng là lời tố cáo thói nghen tuông ích
kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông- người chồng vô học, đa nghi như Trương Sinh-
là lời tố cáo luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, bất công-
“chế độ nam quyền” dưới thời phong kiến ngự trị.
Vũ Nương trong truyện là một nhân vật rất đẹp, theo đúng quan niệm đặc điểm
truyền thống, nhưng phải chịu nổi oan tày trời và phải chứng thực sự vô tội của
mình bằng cái chết. Cái chết đau đớn bất công, chỉ vì sự hiểu nhầm, từ một câu
nói thơ ngây của con trẻ mà người chồng Trương Sinh đã nghi oan, đã làm mất đi
người vợ quý trên đời. Nguyên nhân sâu xa của bi kịch nát lòng này chính là do
chiến tranh loạn lạc và lễ giáo phong kiến trọng nam quyền trong xã hội ngày
trước.
Liên quan (Diemchuantuyensinh.com)
>> Xem điểm chuẩn vào lớp 10 cả nước
>> Xem thống kê điểm chuẩn lớp 10 hàng năm
Lớp 9, Ngữ văn, Ngữ văn 9, ôn thi, Văn mẫu, Văn mẫu, lớp 9, Ngữ văn, Ngữ Văn 9, Ôn thi, ôn thi vào 10,
>> Xem thống kê điểm chuẩn lớp 10 hàng năm
Lớp 9, Ngữ văn, Ngữ văn 9, ôn thi, Văn mẫu, Văn mẫu, lớp 9, Ngữ văn, Ngữ Văn 9, Ôn thi, ôn thi vào 10,
0 comments Blogger 0 Facebook
Post a Comment