loading...
QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO Phần 1
Phạm vi: Môn GDCD 12



I. Bình đẳng giữa các dân tộc     
1.Thế nào là bình đẳng giữa các dân tộc?
Dân tộc: được hiểu theo các nghĩa khác nhau. Trong chủ đề này, dân tộc được hiểu theo nghĩa là một bộ phận dân cư của quốc gia; ví dụ: dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Dao,… ở nước ta
Quyền bình đẳng giữa các DT được hiểu là các DT trong một quốc gia không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hố cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da…đều được NN và PL tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện phát triển.
2.Nội dung quyền bình đẳng giữa các dân tộc
      a) Các dân tộc ở Việt Nam đều được bình đẳng về chính trị
    Các dân tộc đều có quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội (tham gia vào bộ máy nhà nước, tham gia thảo luận, góp ý các vấn đề chung của cả nước). Quyền này được thực hiện theo hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp.
ï Các dân tộc ở Việt Nam đều bình đẳng về kinh tế
   Quyền bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện ở chính sách phát triển kinh tế cảu Đảng và Nhà nước, không có sự phân biệt giữa các dân tộc đa số và thiểu số. Nhà nước luôn quan tâm hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế để rút ngắn khoảng cách, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có cơ hội vươn lên phát triển về kinh tế
ï Các dân tộc ở Việt Nam đều bình đẳng về văn hóa, giáo dục
   Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình. Những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc được giữ gìn, khôi phục, phát huy.
  Công dân thuộc các dân tộc khác nhau ở Việt Nam đều được Nhà nước tạo mọi điều kiện để được bình đẳng về cơ hội học tập
   
 b) Ý nghĩa quyền bình đẳng giữa các dân tộc
     Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở của đoàn kết giữa các dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, nhằm mục tiêu xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp. Không có bình đẳng thì không có đoàn kết thực sự.
­ Khi nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng ngày 21/02/1961, Chủ tịch Hồ Chí minh nói: “Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, phải đồn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng Tổ quốc, xây dựng CNXH làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no”.
Đại biểu Quốc hội khóa X là người dân tộc thiểu số chiếm 17,3% ; số đại biểu là người dân tộc trong Hội đồng nhân dân các cấp như sau: cấp tỉnh chiếm 18,2%, cấp huyện chiếm 18,7%, cấp xã chiếm 22,7% so với tổng số đại biểu dân cử cấp đó. Điều đó thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc trong việc tham gia quản lý Nhà nước.

1. Gây rối quy mô lớn tại Tây Nguyên

Hành động gây rối, có biểu hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đã diễn ra trên quy mô lớn, với tổng cộng gần 10 nghìn người tham gia, đồng loạt ở các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai và Đăk Nông ngày 10/4. Nhiều người xác nhận có sự xúi giục từ nước ngoài.
 Sáng 10/4, hàng nghìn người Êđê gồm thanh, thiếu niên, già làng... từ 30 trong tổng số 532 thôn buôn thuộc huyện Chư M’ga, Krông Ana đã tràn ra quốc lộ 14, quốc lộ 27 và tỉnh lộ 8, có chuẩn bị kỹ lưỡng, tổ chức thành 4 mũi nhằm về hướng trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột.
Những người này đi trên hàng trăm xe công nông, môtô, xe máy. Họ mang theo hung khí như xà gạc, kiếm mác, gậy gộc, ná, đá... Dọc đường, một số phần tử quá khích đã dừng máy cày, môtô bên đường, vào các chợ Ea Kao, Phan Chu Trinh, Ea K’tua và các quán ăn dọc đường để đập phá và cướp lương thực, thực phẩm. Hành động này đã dẫn đến xô xát giữa những người Êđê đi gây rối với các chủ sạp chợ, quán ăn, gây ra thương tích cho một số người.
Khi còn cách thành phố Buôn Ma Thuột 2 km, đoàn người đã bị lực lượng công an chặn lại, yêu cầu giải tán, giữ an ninh, trật tự. Tại đây những người gây rối có hành động công khai tấn công người thi hành công vụ.
Tại Gia Lai, sáng cùng ngày, đồng bào dân tộc ở một số làng của các huyện Ayun Pa, Chư Sê, Đăk Đoa, Đức Cơ, Chư P’rông và thành phố Pleiku đột ngột kéo lên trụ sở các xã và gây rối. Một số phần tử quá khích kích động đám đông, đuổi đánh cán bộ và đập phá tứ tung. Tình hình căng thẳng ở nhiều địa phương.
Lãnh đạo tỉnh Gia Lai đã họp khẩn cấp và cử ngay nhiều cán bộ về các điểm nóng để ổn định tình hình. Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Vĩ Hà đã có mặt tại các làng trong huyện Đắc Đoa, tiếp xúc ngay với bà con, ghi nhận các ý kiến và giải thích trở lại. Từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã, các cán bộ toả ra khắp nơi.
Ông Nguyễn Dũng, Chủ tịch UBND huyện Chư Sê di chuyển giữa các làng, ngay cả những nơi nguy hiểm khi sự phấn khích đã làm cho nhiều thanh niên dân tộc không còn kiềm chế. Nhiều nơi như một chảo lửa. Trung tá công an Nguyễn Thế Xuân, trong lúc làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự đã bị những kẻ quá khích tấn công làm trọng thương - gãy xương đùi.

Trả lời VnExpress, ông Lữ Hồng Cư, Giám đốc công an tỉnh Đăk Lăk cho biết, vụ gây rối chỉ diễn ra trong một ngày và được giải quyết ổn thỏa. Mọi sinh hoạt của bà con ở Tây Nguyên hiện đã hoàn toàn bình thường.
Theo tin báo Tuổi Trẻ, những người theo đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa lại đến các nhà thờ để dự lễ Phục sinh. Các công dân mới hôm trước kéo nhau về Buôn Ma Thuột, hôm sau đã có mặt ở các nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng để tiếp xúc với các ứng cử viên HĐND các cấp. Mỗi người một vẻ mặt, tâm trạng khác nhau nhưng họ đều có chung một câu trả lời rằng chính họ bị Kok Ksor bên Mỹ thông qua tay chân trong nước lừa phỉnh đi làm điều sai trái như sáng 10/4 vừa rồi.
Cũng theo ghi nhận của Tuổi Trẻ, Y Kruê Niê ở Buôn Trắp, xã Ea H’Đing, huyện Chư M’ga, đã kể lại hôm 12/4 với các ứng cử viên HĐND tỉnh khi về tiếp xúc cử tri tại xã như sau: “Khoảng nửa đêm 9/4, vợ chồng mình và hai đứa con nhỏ đang ngủ bỗng nghe tiếng đập cửa bên ngoài. Mình dậy bật điện phía ngoài hè, bước ra thì gặp hai người Êđê mặc đồ đen mà mình chưa thấy bao giờ. Hai người nói tiếng Êđê rất nhanh, bảo với mình đêm nay bọn người Kinh sẽ tấn công Buôn Trắp nên hãy gọi vợ con dậy ngay để tập trung ra đầu buôn mà đi lên Buôn Ma Thuột trong ngày mai (10/4) để lên máy bay của Liên Hợp Quốc chở sang Mỹ vừa lánh được nạn, vừa được sống sung sướng. Hai người nói đến đó rồi đi ra rừng cao su. Còn mình vào đánh thức vợ, con dậy xếp tất cả gạo, bắp, quần áo, sách vở lên máy cày và liền đó ra tập trung ở ngoài đường phía đầu buôn.
Ra đến đây là bốn giờ sáng, tất cả 47 hộ với 170 người (100%) trong buôn có mặt, dùng máy cày, xe máy kéo nhau theo tỉnh lộ 8 để về Buôn Ma Thuột, nhưng đi đến xã Ea Pôc thì nghe nói: Ngày 8/4 bà con trong các buôn chuyền nhau đọc truyền đơn in bằng tiếng Êđê có nội dung người Kinh đã chiếm hết đất của người dân tộc và tới đây còn đuổi hết người dân tộc ra khỏi buôn làng mình, không cho người dân tộc theo đạo. Do đó, chúng ta hãy mau mau rời khỏi buôn làng để sang Mỹ sống cho sung sướng. Sáng 10/4, tất cả tập trung tại ngã 6 Buôn Ma Thuột để có máy bay của Liên Hợp Quốc đón đi. Và sáng 10/4 mình và cả buôn làng ra đi theo nội dung truyền đơn đó. Mình đi xe máy đến chỗ buôn Rư gặp người đi đông quá nên bị té xe, bị thương và mất xe...”.
Vụ gây rối trên diễn ra, sau khi Tổ chức người Thượng (MFI, có trụ sở ở Nam Carolina, Mỹ) tuyên bố người Tin Lành trên khu vực Tây Nguyên sẽ tổ chức một cuộc diễu hành kéo dài một tuần nhằm kêu gọi tự do tôn giáo.
Trả lời hãng thông tấn AFP qua điện thoại hôm thứ hai, thủ lĩnh của MFI Kok Ksor cho biết: “Theo thông tin từ người thân của vợ tôi, những người biểu tình ở Tây Nguyên hứng chịu thương vong lớn”, đồng thời kêu gọi các tổ chức, trong đó có Liên Hợp Quốc "điều tra về thảm kịch đó”.
Liên quan đến việc này, trả lời câu hỏi của một số phóng viên ngày 14/4, ông Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VN cho biết: "Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc với dụng ý xấu về cái gọi là đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Thông tin về tình hình Tây Nguyên và cái gọi là "Tổ chức Người Thượng" là hoàn toàn bịa đặt và đã được thổi phồng với dụng ý xấu".  (X.H. tổng hợp)

2. Chương trình 135

Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt thực hiện chương trình này có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I. Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010).

Giai đoạn I (1997-2006)

Điều hành Chương trình 135 là Ban chỉ đạo chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Người đứng đầu ban này là một phó thủ tướng chính phủ; phó ban là Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; và các thành viên là một số thứ trưởng các bộ ngành và các đại diện đoàn thể xã hội.
Mục tiêu cụ thể của Chương trình 135 là:
Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này, bao gồm đầu tư ồ ạt của nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm (nhà nước và nhân dân cùng chịu kinh phí, cùng thi công), miễn giảm thuế, cung cấp miễn phí sách giáo khoa, một số báo chí, v.v...
Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh sách 1.870 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm phạm vi của Chương trình 135. Các năm tiếp theo, do có sự chia tách và thành lập xã mới, nên số xã thuộc phạm vi Chương trình 135 đã vượt con số trên. Khi giai đoạn I kết thúc, Nhà nước Việt Nam đã chi khoảng 10 nghìn tỷ đồng, cả nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 25 nghìn công trình thiết yếu các loại, góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, cũng có đánh giá rằng hiệu quả của Chương trình 135 còn chưa cao, nhiều mục tiêu chưa thực hiện được.

Giai đoạn I (1997-2006)


Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chương trình 135.

Mục tiêu tổng quát

  • Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất
  • Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường.
  • Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
  • Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước.
  • Đến năm 2010: Trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%.

Nội dung chính chương trình

Nhà nghèo trước khi chưa có chương trình
Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản suất của đồng bào các dân tộc. Đào tạo cán bộ khuyến nông thôn bản. Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả, phát triển công nghiệp chế biến bảo quản. Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng có năng suất cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị.
Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã phù hợp với khả năng nguồn vốn, công khai định mức hỗ trợ nhà nước. Xây dựng kiên cố hóa công trình thủy lợi: Đập, kênh, mương cấp 1-2, trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp và kết hợp cấp nước sinh hoạt. Làm hệ thống điện hạ thế đến thôn, bản; nơi ở chưa có điện lưới làm các dạng năng lượng khác nếu điều kiện cho phép. Xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng. Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết.
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, kiến thức kĩ năng quản lý điều hành xã hội, nâng cao năng lực cộng đồng. Đào tạo nghề cho thanh niên 16 - 25 tuổi làm việc tại các nông lâm trường, công trường và xuất khẩu lao động.
Hỗ trợ các dịch vụ, nâng cao chất lượng giáo dục, đời sống dân cư hợp vệ sinh giảm thiểu tác hại môi trường đến sức khỏe người dân. Tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe cộng động.
DANH MỤC
Các thành phần dân tộc việt nam
( Ban hành theo quyết định số 121-TCTK/PPCÐ ngày 2 tháng 3 năm1979)
(Các dân tộc được xếp theo thứ tự số lượng dân số với các chi tiết về tên gọi và Địa bàn phân bố cư trú)
 Mã số
Tên các thành phần dân tộc
Các tên gọi khác
Ðịa bàn cư trú chủ yếu (*)
01
Kinh ( Việt )
Kinh
Trong cả nước
02
 Tày
 Ngạn, Phén, Thù Lao, Pa
Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tuyên, Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Quảng Ninh, Hà Bắc, Lâm Ðồng.
03
Thái
( Thái trắng), Tày Ðăm (Thái Ðen), Tày Mười, Tày Thanh (Mán Thanh), Hàng Bông (Tày Mường), Pa Thay, Thổ Ðà Bắc.
Thanh Hoá, Lai Châu, Hoàng Lên Sơn, Hà Sơn Bình, Lâm Ðồng
04
Hoa ( Hán)
Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Ðông, Hải Nam, Hạ, Xạ Phạng
Thành Phố Hồ Chí minh, Hà Nội, Hậu Giang, Ðồng nai, Minh Hải, Kiên Giang, Hải Phòng,Cửu Long.
05
Khơ- Me
Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ-Me, Krôm
Hậu Giang, Cửu Long, Kiên Giang, Minh Hải, Thành phố Hồ Chí Minh, Sông Bé, Tây Ninh
06
Mường
Mol, Mual, Mọi, Bi, Ao Tá             ( Âu Tá)
Hà Sơn Bình, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Hà nam Ninh
07
Nùng
Xuồng, Giàng, Nùng An, Phàn Sinh, Nùng Cháo, Nùng Lòi, Quí Rim, Khèn Lài...
Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Tuyên, Hà Bắc, Hoàng liên sơn, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí minh, Lâm đồng.
08
HMông ( Mèo)
Mẹo, Hoa, Mèo Xanh, Mèo Ðỏ, Mèo Ðen, Ná mẻo, Mán trắng.
Hà Tuyên, Hoàng LiênSơn, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ Tĩnh.
09
Dao
Mán, Ðộng, Trại, Xá, Dìu, Miên, Kiềm, Miền, Quần Trắng, Dao Ðỏ, Quần Chẹt, Lô Giang, Dao Tiền, Thanh Y, Lan Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cóc Ngáng, Cóc Mùn, Sơn Ðầu.
Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Cao bằng, Lạng Sơn, Bắc thái, Lai Châu, Sơn La, Hà sơn Bình, Vĩnh Phú, Hà Bắc, thanh Hoá, Quảng Ninh.
10
Gia- Rai
Giơ -Rai, Tơ-buăn, Chơ Rai, Hơ-bau, Hđrung,Chor
Gia Lai, Kôn Tum.
11
Ngái
Xín, Lê, Ðản, Khánh Gia.
Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn.
12
Ê- đê
Ra- Ðê, Ðê, Kpạ, A-đham,Krung,Ktul, Ðliê Ruê, Blô, Epan, Mđhur  (2)Bih
Ðắc-Lắc, Phú Khánh
13
Ba Na
Gơ- lar, Tơlô, Giơ-lâng, (Y Lăng), Rơ - ngao, Krem, Rh, ConKđe, A- LaCông,Kpâưng, Công, Bơ- Nâm
Gia Lai, Kôm Tum, Nghĩa Bình, Phú Khánh
14
Xơ - Ðăng
Xơteng, Hđang, Tơ- đra, Mơ- Nâm, Ha-Lăng, Ca- dong, Kmrâng, ConLan, Bri- La, Tang.
Gia Lai, Kômn Tum, Quảng Nam, Ðà Nẵng
15
Sán Chay ( Cao Lan- Sán Chỉ )
Cao Lan, Mán Cao Lan, Hờn Bạn, Sán Chỉ (còn gọi là Sơn Tử và không bao gồm nhóm Sán Chỉ ở Bảo Lạc và chợ Rã)
Bắc Thái, Quảng Ninh, Hà Bắc, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tuyên.
16
Cơ - Ho
Xrê, Nốp( Tu- Lốp), Cơ- don, Chil(3), Lát(lach), Trinh.
Lâm Ðồng, Thuận Hải
17
Chăm (Chàm )
Chăm, Chiêm Thành, Hroi
Thuận Hải, An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghĩa Bình, Phú Khánh.
18
Sán Dìu
Sán dẻo, Trại, Trại Ðất, Mán, Quần Cộc
Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà bắc, Quảng Ninh,Hhà Tuyên.
19
Hrê
Chăm Rê, Chom,Kre Luỹ.
Nghĩa Bình
20
Mnông
Pnông, Nông, Pré, Bu- đâng, Ðỉpi,Biat, Gar, Rơ- Lam, Chil. (3)
Ðắc Lắc, Lâm Ðồng, Sông Bé
21
Ra- glai
Ra-clây, rai, Noang, La- Oang
Thuận Hải, Phú Khánh
22
Xtiêng
Xa - Ðiêng
Sông Bé, Tây Ninh
23
Bru- Vân Kiều
Bru, Vân Kiều, Măng Coong, Tri Khùa.
Bình  Trị Thiên
24
Thổ (4)
Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Ðan- Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá, Vàng (5)
Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá ( Nghi Xuân )
25
Giáy
Nhắng, Dẩng, Pầu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu (6), Xa.
Hoàng Liên Sơn, Lai Châu.
26
Cơ- Tu
Ca- Tu, Cao, Hạ, Phương,         Ca- Tang (7)
Quảng Nam, Ðà Nẵng, Bình Trị Thiên
27
Gié Triêng
Ðgiéh, Tareb, Giang Rẫu Pin, Triêng, Treng, Ta- riêng, Ve (Veh), La-ve, Ca-tang (7)
Quảng Nam, Ðà Nẵng, Gia Lai, Kôn Tum.
28
Mạ
Châu Mạ, Mạ Ngăn, Mạ Xóp, Mạ Tô, Mạ Krung.
Lâm đồng, Ðồng Nai
29
Khơ-Mú
Xaá Cẩu, Mứn Xen,Pu Thêng, Tềnh, Tày Hay.
Nghệ Tĩnh, Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên Sơn
30
Co
Cor, Col, Cùa, Trầu
Nghĩa Bình, Quảng Nam, Ðà Nẵng
31
Ta-Ôi
Tôi-Ôi, Pa-Co, Pa-Hi( Ba-hi)
Bình Trị Thiên
32
Chơ- Ro
Dơ-Ro, Châu-Ro
Ðồng Nai
33
Kháng
Xá Khao, Xá Súa, Xá Dón, Xá Dẩng, Xá Hốc, Xá ái, Xá Bung, Quảng Lâm
Lai Châu, Sơn La
34
Xinh- Mun
Puộc, Pụa
Sơn La, Lai Châu
35
Hà Nhì
U Ni, Xá UNi
Lai Châu, Hoàng Liên Sơn
36
Churu
Chơ-ru, Chu
Lâm Ðồng, Thuận Hải
37
Lào
Lào Bốc, Lào Nọi
Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Hoàng Liên Sơn
38
La Chí
Cù Tê, La Quả
Hà Tuyên
39
LaHa
Xá Khao, Khlá Phlạo
Lai Châu, Sơn La
40
Phù Lá
Bồ Khô Pạ, Mu Di Pạ Xá, Phó, Phổ, Va
Hoàng Liên Sơn, Lai Châu.
41
La Hủ
Lao, Pu Ðang, Khù Xung, Cò Xung, Khả Quy
Lai Châu
42
Lự
Lừ, Nhuồn (Duôn)
Lai Châu
43
Lô Lô
Mun Di
Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tuyên.
44
Chứt
Sách, Máy, Rục, Mã Liêng, A rem, Tu Vang, Pa Leng, Xơ Lang, Tơ- hung, Chà -củi, U- Mo, Xá Lá Vàng
Bình Trị Thiên
45
Mảng
Mảng Ư , Xá Lá vàng
Lai Châu
46
Pà Thẻn
Pà Hưng, Tống
Hà Tuyên
47
Cơ Lao
 
Hà Tuyên
48
Cống
Xắm Khống, Mấng Nhé,           Xá xeng
Lai Châu
49
Bố Y
Chủng  Chá, Trọng Gia, Tu Di, Tu Din
Hoàng Liên Sơn , Hà Tuyên
50
Si La
Cuù Dề Xừ, Khả pẻ
Lai Châu
51
Pu Péo
Ka pèo,, Pen Ti Lô Lô
Hà Tuyên
52
Brâu
Brao
Gia Lai, Kôn Tum.
53
Ơ Ðu
Tày Hạt
Nghệ Tĩnh
54
Rơ măm
 
Gia Lai, Kôn Tum.
55
Người nước ngoài
 
 
 
Chú Thích
 
(1) Là tên người Thái chỉ người Mường
(2) Mđhur là một nhóm trung gian giữa người Ê-đê và Gia-rai. Có một số làng Mđhur nằm trong địa phận của tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Cheo Reo, tiếp cận với người Gia-rai, nay đã tự báo là ngưòi Gia-rai.
(3) Chil là một nhóm địa phương của dân tộc Mnông. Một bộ phận lớn người Chil di cư xuống phía Nam, cu trú lẫn với người Cơ-Ho, nay đã tự báo là Cơ-Ho. Còn bộ phận ở lại quê hương cũ, gắn với người Mnông, vẫn tự báo là người Mnông.
(4) Thổ đây là tên tự gọi, khác với tên Thổ trước kia dùng để chỉ nhóm Tày ở Việt Bắc, nhóm Thái ở Ðà Bắc và nhóm Khơ-Me ở đồng bằng sông Cửu Long.
(5) Xá Lá Vàng: Tên chỉ nhiều dân tộc sống du cư ở vùng biên giới.
(6) Cùi chu ( Quý Châu) có bộ phận ở bảo Lạc ( Cao bằng) sống xen kẽ với người nùng, được xếp vào người nùng.
(7) Ca Tang: Tên gọi chung nhiều nhóm người ở miền núi Quảng Nam- Ðà nẵng, trong vùng tiếp giáp với Lào. Cần Phân biệt tên gọi chung này với tên gọi riêng của từng dân tộc.
* Một số tên gọi của các tỉnh vẫn thao tên gọi cũ vào thời gian năm 1978.



Về trang chính - Inluon.net

0 comments Blogger 0 Facebook

Post a Comment




 
Diem chuan tuyen sinh ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|Travel - Du lịch
Top