loading...
Chuyện ngưười con gái Nam Xương


I.Tìm hiểu chung :
1. Tác giả
-  Nguyễn Dữ sống ở  khoảng đầu thế kĩ XVI -là thời kì mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm  của xã hội nước ta thời phong kiến
- Quê: Huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương
- Là con của Nguyễn Tướng Phiên (Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27, đời vua Lê Thánh Tông 1496). Theo các tài liệu để lại, ông  còn là học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, chịu ảnh hưởng tiết tháo của người thầy, sau khi đỗ hương cống, làm quan được một năm, Nguyễn Dữ lui về ẩn cư ở vùng núi Thanh Hoá.
2.Xuất xứ:
- Truyền kì mạn lục là tập truyện ngắn đầu tiên của văn học VN, viết bằng chữ Hán, đưược Nguyễn Thế Nghi ngưười cùng thời dịch ra chữ Nôm, ngưười đưương thời đánh giá rất cao, đời sau gọi đó là áng văn hay của bậc đại gia, là thiên cổ kì bút.
- Truyện đậm giá trị nhân văn và Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn khơi mở cho trào lưưu nhân văn trong văn học trung đại VN.
  “Truyền kì  mạn  lục”l à tác phẩm duy nhất còn lại của ông. Đây  được coi là áng « thiên cổ kì  bút”  với 20  truyện  được viết theo   thể truyền kì.
Truyền kỳ: là những truyện thần kỳ với các yếu tố tiên phật, ma quỷ vốn được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
Mạn lục: Ghi chép tản mạn.
Truyền kỳ  còn là một thể loại viết bằng chữ Hán (văn xuôi tự sự) hình thành sớm ở Trung Quốc, được các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những chuyện có thực về những con người thật, mang đậm giá trị nhân bản, thể hiện ước mơ khát vọng của nhân dân về một xã hội tốt đẹp.
-  Chuyện người con gái Nam Xương kể về cuộc đời và nỗi oan khuất của người phụ nữ Vũ Nương, là một trong số 11 truyện viết về phụ nữ.
- Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương” tại huyện Nam Xương (Lý Nhân - Hà Nam ngày nay).
-Người con gái Nam Xương là một trong 20 truyện của tập sách, đưược xây dựng trên cơ sở truyện cổ tích có hư cấu thêm các yếu tố kì ảo.
3. Tóm tắt truyện
- Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, tính hay đa nghi).
- Trương Sinh phải đi lính chống giặc Chiêm. Vũ Nương sinh con, chăm sóc mẹ chồng chu đáo. Mẹ chồng ốm rồi mất.
- Trương Sinh trở về, nghe câu nói của connghi ngờ vợ. Vũ Nương bị oan nhưng không thể minh oan, đã tự tử ở bến Hoàng Giang, được Linh Phi cứu giúp.
- Ở dưới thuỷ cung, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng). Phan Lang được Linh Phi giúp trở về trần gian - gặp Trương Sinh, Vũ Nương được giải oan - nhưng nàng không thể trở về trần gian.


II. Néi dung chÝnh
1, Nhân vật Vũ Nương
:           a)  ở hoàn cảnh nào, VN đều tỏ rõ là người phụ nữ đẹp người đẹp nết:
 -Trước khi lấy chồng: Được tiếng là người có “tư dung tốt đẹp”
-  Từ khi lấy chồng: Trong cuộc sống vợ chồng: Trước bản tính hay ghen của chồng, Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hoà”.
-  Khi tiễn chồng ra trận: Nµng rãt chÐn r­îc ®Çy nãi nh÷ng lêi ©n nghÜa thuû chung, thÓ hiÖn sù quan t©m lo l¾ng cho chång ë chèn biªn ¶i xa x«i. Chøng tá nµng rÊt hiÓu vµ th«ng c¶m cho chång.
- Khi xa chồng: Vũ Nương là người vợ chung thuỷ, yêu chồng tha thiết, một người mẹ hiền, dâu thảo.
          + Khi chồng ra trận bao gánh nặng gia đình đề lên vai nhỏ yếu của nàg. Một mình nàg vừa chăm sóc mẹ già lại nuôi dạy con thư. Khi mẹ chồng ốm nàg hết sức thuốc thang, lầy lời ngon ngọt khuyên mẹ chồng ăn uống cho chóng lành bệnh. Mẹ chồng mất nàng ma chay tế lễ chu đáo nhu cha mẹ đẻ của mình. Trước khi nhắm mắt chính mẹ chồng của nàng cũng phải thóêt nên những câu hết sức cảm động để nói về công lao của nàng với gia đình nhà chồng: “…xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con chẳng phụ mẹ”.
          + Chồng ra trận, nàng gửi nỗi nhớ thương chồng vào chính chiếc bóng của mình ở trên tuơng mà nói với đứa con thơ dại rằng đó chính là cha nó.
->Vụ Nương là người phụ nữ đảm đang, thương yêu chồng hết mực.
- Khi bị chồng nghi oan: Phân trần để chồng hiểu rõ nỗi oan của mình. Những lời nói thể hiện sự đau đớn thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối xử bất công. Vũ Nương không có quyền tự bảo vệ.
Hạnh phúc gia đình tan vỡ. Thất vọng tột cùng, Vũ Nương tự vẫn. Đó là hành động quyết liệt cuối cùng.
- Lời than thống thiết, thể hiện sự bất công đối với người phụ nữ đức hạnh.
- Khi sống ở thuỷ cung: Đó là một thế giới đẹp từ y phục, con người đến quang cảnh lâu đài. Nhưng đẹp nhất là mối quan hệ nhân nghĩa.
- Cuộc sống dưới thuỷ cung đẹp, có tình người.
Tác giả miêu tả cuộc sống dưới thuỷ cung đối lập với cuộc sống bạc bẽo nơi trần thế nhằm mục đích tố cáo hiện thực.
- Vũ Nương gặp Phan Lang, yếu tố ly kỳ hoang đường.
- Nhớ quê hương, không muốn mang tiếng xấu.
Thể hiện ước mơ khát vọng một xã hội công bằng tốt đẹp hơn, phù hợp với tâm lý người đọc, tăng giá trị tố cáo.
-         Thể hiện thái độ dứt khoát từ bỏ cuộc sống đầy oan ức. Điều đó cho thấy cái nhìn nhân đạo của tác giả.
=>Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, hiếu thảo, thuỷ chung vẹn toàn, hết lòng vun đắp cho hạnh phúc gia đình.
b) Vũ Nương lại là một người phụ nữ bất hạnh, oan trái.
           - Bởi sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến: Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc             vào người   đàn ông trong gia đình. Thậm chí không có cả quyền làm chủ số phận của chính bản thân mình. cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu. lấy phải  người chồng gia trưởng, độc đoán lại hay ghen tuông vô lối.
          c) Cái chết của Vũ Nương thực chất là một sự bức tử: 
          - Xuất phát từ lời nói ngây thơ của con trẻ => khiến cho lòng ghen tuông vô
 lối, mù quáng của Trương Sinh bùng phát không gì gỡ được.Hành động vũ phu,thái độ độc đoán, gia trưởng, bỏ ngoài tai mọi sự thanh minh của Vũ Nương và  những người hàng xóm của Trương Sinh. Một mực nghi oan cho vợ, đánh đập,   đuổi đi Vũ Nương rơi vào sự bế tắc hoàn toàn không còn sự lựa chọn nào khác ngoài cái chết.
 - Cái chết của Vũ Nương không chỉ thể hiện sự bế tắc của nàng mà còn có nghĩa vô cùng sâu sắc: Số phận mỏng manh của người phụ nữ, chế độ nam quyền bất công dung túng cho hành động của người chồng, chiến tranh phong  kiến li gián lứa đôi, khiến cho hạnh phúc của họ phải đến cảnh “ bình rơi trâm  gãy”, lòng thương cảm của tác giả cho số phận người phụ nữ...
2, Nhân vật Trương Sinh

-  Điển hình cho quyền lực và tính cách của người chồng trong chế độ phong kiến nam quyền: Gia trưởng, độc đoán, coi thường nhân phẩm thậm chí coi thường cả mạng sống của vợ. Ngoài ra, Trương Sinh còn là kẻ vô  học, ghen tuông mù quáng, vô lối.
3, Lời nói của Đản:
- “Ô hay! Thế ra ông cũng là cho tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít… Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến…”.
- Câu nói phản ánh đúng ý nghĩ ngây thơ của trẻ em: nín thin thít, đi cũng đi, ngồi cũng ngồi (đúng như sự thực, giống như một câu đố giấu đi lời giải. Người cha nghi ngờ, người đọc cũng không đoán được).
- Tài kể chuyện (khéo thắt nút mở nút) khiến câu chuyện đột ngột, căng thẳng, mâu thuẫn xuất hiện.
- Trương Sinh giấu không kể lời con nói: khéo léo kể chuyện, cách thắt nút câu chuyện làm phát triển mâu thuẫn.
-Ngay trong lời nói của Đản đã có ý mở ra để giải quyết mâu thuẫn: “Người gì mà lạ vậy, chỉ nín thin thít”

Đề tham khảo
  
Đề 1: Giá trị nhân đạo trong “chuyện ngưười con gái Nam Xưương” của Nguyễn Dữ

I/ Tìm hiểu đề
   - Đề yêu cầu phân tích một giá trị nội dung của tác phẩm – giá trị nhân đạo. Giá trị nhân đạo thể hiện trong tác phẩm văn chương còn gọi là giá trị nhân văn.
   - Văn học trung đại Việt Nam thường biểu hiện tiếng nói  nhân văn ở sự trân trọng mọi phẩm giá con người, đồng tìh thông cảm với khát vọng của con người, đồng cảm với số phận bi kịch của con người và lên án những thế lực bạo tàn chà đạp lên con người
   - Dựa vào những điều cơ bản trên,người viết soi chiếu và “Chuyện người con gái Nam Xương” để phân tích những biểu hiện cụ thể về nội dung nhân văn trong tác phẩm. Từ đó đánh giá những đóng góp của Nguyễn Dữ vào tiếng nói nhân văn của văn học thời đại ông.
   - Tuy cần dựa vào số phận bi thưương của nhân vật Vũ Nưương để khai thác vấn đề, nhưng nội dung bài viết phải rộng hơn bài phân tích nhân vật, do đó cách trình bày phân tích cũng khác.
II/ Dàn bài chi tiết
   A- Mở bài:
   - Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận con ngưười trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chưương ngày càng phát triển phong phú và sâu sắc.
   - Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện ngưười con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng  nhân văn của Nguyễn Dữ.
   B- Thân bài:
     * Khái niệm nhân đạo: lòng yêu thưuơng, sự ngợi ca, tôn trọng giá trị, phẩm chất, vẻ đẹp, tài năng, và quyền lợi của con ngưuời.
1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của VN, một phụ nữ bình dân
   - VNư là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn ngưuời khá đặc biệt của tưư tưưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
   - Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của ngưuời phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na. Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưuỡng; đói với con rất mực yêu thưuơng.
   - Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con ngưuời, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
   + Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
   + Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để đưuợc “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
   + Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũng thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nưuơng tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất”
   Tóm lại : dưuới ánh sáng của tưu tưuởng nhân văn đã xuất hiện nhiều trong văn chuương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con ngưuời. Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.
   2. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nưuơng bao nhiêu thì càng đau đớn trưuớc bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.
   - Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đáp cho hạnh phúc đó lại chẳng đưuợc hưuởng hạnh phúc cho xứng với sự hi sinh của nàng:
   + Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây thơ của đứa trẻ đã khăng khăng kết tội vợ).
   + Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trưuớc gió,… cái én lìa đàn,…” mà ngưuời chồng vẫn không động lòng.
   + Con ngưuời trong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đến cái chết oan khuất
    à Bi kịch đời nàng  là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.
   3. Nhưung với tấm lòng yêu thưuơng con ngưuời, tác giả không để cho  con ngưuời trong sáng cao đẹp nhuư nàng đã chết oan khuất.
   - Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nuương trở về để đuược rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
   - Nhưng Vũ Nuương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian đưuợc nữa”.
   - Hạnh phúc vẫn chỉ là ưuớc mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn đuược).
   4. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lực tàn ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con ngưuời.
   - XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trưuơng Sinh,
ngưuời chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
   - Thế lực đồng tiền bạc ác (Trưuơng Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng để cưuới Vũ Nuương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con nguười.
   à Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trưuơng, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.
   C- Kết bài:
   - “Chuyện ngưuời con gái Nam Xưuơng” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn. Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ  về số phận đầy tính bi kịch của ngưuời phu nữ trong chế độ phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thuương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
 Đề 2:  Chuyện nguười con gái Nam Xuương của Nguyễn Dữ xuất hiện nhiều yếu tố kì ảo. Hãy chỉ ra các yếu tố kì ảo ấy và cho biết tác giả muốn thể hiện điều gì khi đưa ra những yếu tố kì ảo vào1 câu chuyện quen thuộc ?
  
 Gợi ý:   

- Cần chỉ ra đưuợc các chi tiết kì ảo trong câu chuyện :
   + Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa
   + Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, đưuợc cứu giúp; gặp lại Vũ Nuơng, đưuợc sứ giả của Linh Phi rẽ đưuờng nưuớc đưa về dưuơng thế.
   + Vũ Nưuơng hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến mất.
   - ý nghĩ của các chi tiết huyền ảo:
   + Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nưuơng: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, khao khát đuược phụ hồi danh dự.
   + Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện.
   + thể hiện ưuớc mơ về lẽ công bằng ở đời của nhân dân
   + Tăng thêm ý nghĩa tố cáo hiện thực của xã hội.
   * Về hình thức: - Câu trả lời ngắn gọn, giải thích làm rõ yêu cầu của đề bài.- Các ý có sự liên kết chặt chẽ.- Trình bày rõ ràng, mạch lạc.

Đề 3:  Trong “Chuyện người con gái Nam Xưương”, chi tiết cái bóng có ý nghĩa gì trong cách kể chuyện.
   Gợi ý:

1. Yêu cầu nội dung :- Đề bài yêu cầu ngưuời viết làm rõ giá trị nghệ thuật chi tiết nghệ thuật trong câu chuyện.
   - Cái bóng trong câu chuyện có ý nghĩa đặc biệt vì đây là chi tiết tạo nên cách thắt nút, mở nút hết sức bất ngờ.
   + Cái bóng có ý nghĩa thắt nút câu chuyện vì :
Đối với Vũ Nưuơng: Trong những ngày chồng đi xa, vì thuương nhớ chồng, vì không muốn con nhỏ thiếu vắng bóng ngưuời cha nên hàng đêm, Vũ Nưuơng đã chỉ bóng mình trên tưuờng, nói dối con đó là cha nó. Lời nói dối của Vũ Nưuơng với mục đích hoàn toàn tốt đẹp.
Đối với bé Đản: Mới 3 tuổi, còn ngây thơ, chưa hiểu hết những điều phức tạp nên đã tin là có một ngưuời cha đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, nhưung nín thin thít và không bao giờ bế nó.
Đối với Trưuơng Sinh: Lời nói của bé Đản về người cha khác (chính là cái bóng) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ không thuỷ chung, nảy sinh thái độ ghen tuông và lấy đó làm bằng chứng để về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nưuơng đi để Vũ Nưuơng phải tìm đến cái chết đầy oan ức.
   + Cái bóng cũng là chi tiết mở nút câu chuyện.  Chàng Trưuơng sau này hiểu ra nỗi oan của vợ cũng chính là nhờ cái bóng của chàng trên tuường đưuợc bé Đản gọi là cha.Bao nhiêu nghi ngờ, oan ức của Vũ
 Nuương đều đưuợc hoá giải nhờ cái bóng.
   - Chính cách thắt, mở nút câu chuyện bằng chi tiết cái bóng đã làm cho cái chết của Vũ Nưuơng thêm oan ức, giá trị tố cáo đối với xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công với ngưuời phụ nữ càng thêm sâu sắc hơn.
 2. Yêu cầu hình thức: - Trình bày bằng văn bản ngắn. - Dẫn dắt, chuyển ý hợp lí.  - Diễn đạt lưu loát.


Đề 4:  Phần cuối của tác phẩm “Chuyện ngưuời con gái Nam Xưuơng” đuược tác giả xây dựng bằng hàng loạt những chi tiết hưu cấu. Hãy phân tích ý nghĩa của các chi tiết đó.
  
Gợi ý :
 - Các chi tiết huư cấu ở phần cuối truyện : Vũ Nuơng gặp Phan Lang dưuới thuỷ cung, cảnh sống dưới thuỷ cung và những cảnh Vũ Nưuơng hiện về trên bến sông cùng những lời nói của nàng khi kết thúc câu chuyện. Các chi tiết đó có tác dụng làm tăng yếu tố li kì và làm hoàn chỉnh nét đẹp của nhân vật Vũ Nưuơng, dù chết nhưung nàng vẫn muốn rửa oan, bảo toàn danh dự, nhân phẩm .
   - Câu nói cuói cùng của nàng : “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian đuược nữa” là lời nói có ý nghĩa tố cáo sâu sắc, hiện thực xã hội đó không có chỗ cho nàng dung thân và làm cho câu chuyện tăng tính hiện thực ngay trong yếu tố kì ảo : ngưuời chết không thể sống lại
đuược.
Đề 5:   Nêu những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm.
   Gợi ý:
 - Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của VHVN nửa đầu thế kỉ XVI. Đây là thời kì xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều biến động và khủng hoảng. Những giá trị chính thống của Nho giáo bị nghi ngờ, đảo lộn. Đặc biệt chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Mạc gây ra những loạn lạc, rối ren liên miên trong đời sống xã hội. Giống nhuư nhiều tri thức khác của thời đại mình. Nguyễn Dữ chán nản và bi phẫn trưuớc thời cuộc. Chính vì thế, sau khi đỗ Hưuơng Cống, ông chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về ở ẩn. Truyền kì: là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ Trung Quốc, thịnh hành từ thời Đưuờng. Truyền kì thưuờng dựa vào những cốt truyện dân gian hoặc dã sử. Trên cơ sở đó, nhà văn hưu cấu, sắp xếp lại các tình tiết, tô đâm thêm các nhân vật… ở truyền kì, có sự đan xen giữa thực và ảo. Đặc biệt, các yếu tố kì ảo trở thành phưuơng thức không thể thiếu để phản ánh hiện thực và kí thác những tâm sự, những trải nghiệm của nhà văn. “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại truyền kì ở Việt Nam.Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xưuơng”là một trong 20 tác phẩm của “Truyền kì mạn lục”. Qua cuộc đời của Vũ Nưuơng, Nguyễn Dữ tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm vỡ tan hạnh phúc lứa đôi, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc với khát vọng hạnh phúc cũng như bi kịch của ngưuời phụ nữ trong xã hội xưa. Tác phẩm cũng là sự suy ngẫm, day dứt trưuớc sự mong manh của hạnh phúc trong kiếp ngưuời đầy bất trắc.Tác phẩm cho thấy nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật già dặn. Sự đan xen thực ảo một cách nghệ thuật, mang tính thẩm mĩ cao.
-  Giá trị của tác phẩm :Chuyện ngưuời con gái Nam Xưuơng là một truyện ngắn đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Truyện đã thể hiện đưuợc sự phối hợp hài hoà giữa chất hiện thực (câu chuyện đưuợc lưuu truyền trong dân gian) với những nét nghệ thuật đặc trưung của thể loại truyền kì (yếu tố kì lạ hoang đuường).
   Đề 6: hãy phân tích những giá trị của tác phẩm “Chuyện người con giá Nam Xương”:
   1.1Giá trị hiện thực :
  a. Tác phẩm đã đề cập tới số phận bi kịch của ngưuời phụ nữ dưuới chế độ phong kiến thông qua hình tưuợng nhân vật Vũ Nuương
   Vốn là nguười con gái xuất thân từ tầng lớp bình dân thuỳ mị, nết na ; tưu dung tốt đẹp. Khi chồng đi lính. Vũ Nưuơng một mình vừa chăm sóc, thuốc thang ma chay cho mẹ chồng vừa nuôi con, đảm đang, tận tình, chu đáo. Để rồi khi chàng Trưuơng trở về, chỉ vì câu nói ngây thơ của bé Đản mà trưuơng Sinh đã nghi ngờ lòng thuỷ chung của vợ. Từ chỗ nói bóng gió xa xôi, rồi mắng chửi, hắt hủi và cuối cùng là đuổi Vũ Nuương ra khỏi nhà, Trưuơng Sinh đã đẩy Vũ Nưuơng tới bưuớc đường cùng quẫn và bế tắc, phải chọn cái chết để tự minh oan cho mình.
   b. Truyện còn phản ánh hiện thực về XHPKVN với những biểu hiện bất công vô lí.
   Đó là một xã hội dung túng cho quan niệm trọng nam khinh nữ, để cho Trưuơng Sinh – một kẻ thất học, vũ phu ngang nhiên chà đạp lên giá trị nhân phẩm của ngưuời vợ hiền thục nết na.
   - Xét trong quan hệ gia đình, thái độ và hành động của Truương Sinh chỉ là sự ghen tuông mù quáng, thiếu căn cứ  (chỉ dựa vào câu nói vô tình của đứa trẻ 3 tuổi, bỏ ngoài tai mọi lời thanh minh của vợ và lời can ngăn của hàng xóm).
   - Nhuưng xét trong quan hệ xã hội : hành động ghen tuông của Trưuơng Sinh không phải là một trạng thái tâm lí bột phát trong cơn nóng giận bất thuường mà là hệ quả của một loại tính cách – sản phẩm của xã hội đưuơng thời.
   ? Nguyên nhân của cái chết Vũ Nương
   Nếu Truương Sinh là thủ phạm trực tiếp gây nên cái chết của Vũ Nưuơng thì nguyên nhân sâu xa là do chính XHPK bất công – xã hội mà ở đó ngưuời phụ nữ không thể đứng ra để bảo vệ cho giá trị nhân phẩm của mình, và lời buộc tội, gỡ tội cho ngưuời phụ nữ bất hạnh ấy lại phụ thuộc vào những câu nói ngây thơ của đứa trẻ 3 tuổi (lời bé Đản).
   Đó là chưa kể tới một nguyên nhân khác nữa : do CéPK – dù không đuược miêu tả trực tiếp, nhưung cuộc chia tay ấy đã tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tới số phận từng nhân vật trong tác phẩm :
   + Nguười mẹ sầu nhớ con mà chết
   + VN và TS phải sống cảnh chia lìa
   + Bé Đản sinh ra đã thiếu thốn tình cảm của ngưuời cha và khi cha trở về thì  mất mẹ
   Đây là một câu chuyện diễn ra đầu thế kỉ XV (cuộc chiến tranh xảy ra thời nhà Hồ) đuược truyền tụng trong dân gian, nhuưng phải chăng qua đó, tác phẩm còn ngầm phê phán cuộc nội chiến đẫm máu trong xã hội đuơng thời (thế kỉ XVI).
   1.2. Giá trị nhân đạo: Khái niệm nhân đạo: lòng yêu thưuơng, sự ngợi ca, tôn trọng giá trị, phẩm chất, vẻ đẹp, tài năng… và quyền lợi của con ngưuời.
   a. Thái độ ngợi ca, tôn trọng vẻ đẹp của người phụ nữ thông qua hình tuượng nhân vật Vũ Nưuơng.
   - Xuất thân từ tầng lớp bình dân nhưung ở Vũ Nưuơng đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của người PNVN theo quan điểm Nho giáo (có đủ tam tòng, tứ đức).
   - Đặc biệt tác giả đã đặt nhân vật trong các mối quan hệ để làm toát lên vẻ đẹp ấy.
   + Với chồng: nàng là ngưuời vợ hiền thục luôn biết “Giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”.
   + Với con: nàng là ngưuời mẹ dịu dàng, giàu tình yêu thưuơng (chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng nguười mẹ, để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của ngưuời cha)
   + Với mẹ chồng: nàng đã làm tròn bổn phận của một nguười con dâu hiếu thảo (thay chồng chăm sóc mẹ, động viên khi mẹ buồn, thuốc thang khi mẹ ốm, lo ma chay chu đáo khi mẹ qua đời)
   - Những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nưuơng còn đưuợc thể hiện ngay cả khi nàng sống cuộc sống của một cung nữ dưuới thuỷ cung.
   + Sẵn sàng tha thứ cho Trưuơng Sinh
   + Một mực thưuơng nhớ chồng con nhưung không thể trở về vì đã nặng ơn nghĩa đối với Linh Phi…
    Ta thấy, Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc hoạ thành công hình tưuợng nhân vật ngưuời phụ nữ với đầy đủ những phẩm chất đẹp.
   b. Câu chuyện còn đề cao triết lí nhân nghĩa ở hiền gặp lành qua phần kết thúc có hậu giống như rất nhiều những câu chuyện cổ tích Việt Nam.
   - Với đặc trurưng riêng của thể loại truyện truyền kì, Nguyễn Dữ đã sáng tạo thêm phần cuối của câu chuyện. VN đã không chết, hay nói đúng hơn, nàng đuược sống khác bình yên và tốt đẹp hơn ở chon thuỷ cung. Qua đó có thể thấy rõ ưuớc mơ của ngưuời xưua (cũng là của tác giả) về một xã hội công bằng, tốt đẹp mà ở đó, con ngưuời sống và đối xử với nhau bằng lòng nhân ái, ở đó nhân phẩm của con ngưuời đưuợc tôn trọng đúng mức. Oan thì phải được giải, người hiền lành lưuong thiện như Vũ Nuơng phải được huưởng hạnh phúc.
  1. 3 Giá trị nghệ thuật:
   - Đây là một tác phẩm đuược viết theo lối truyện truyền kì  tính chất truyền kì đưuợc thể hiện qua kết cấu hai phần:
   + Vũ Nuơng ở trần gian
   + Vũ Nuương ở thuỷ cung
   Với kết câu hai phần này, tác giả đã khắc hoạ đưuợc một cách hoàn thiên vẻ đẹp hình tuượng nhân vật Vũ Nương.
   Mặt khác, cũng nhưu kết cấu của truyện cổ tích Tấm Cám  Kết câu hai phần ở “Chuyện ngưuời con gái Nam Xưuơng” đã góp phần thể hiện khát vọng về lẽ công bằng trong cuộc đời (ở hiền gặp lành). Tuy nhiên, nếu cô Tấm sau những lần hoá thân đã được trở về vị trí hoàng hậu, sống hạnh phúc trọn đời thì Vũ nưuơng lại chỉ thoáng hiện về rồi vĩnh viễn biến mất.
-Về kết cấu: +Truyện xây dựng từ thấp đến cao. Hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, đợt sau mạnh hơn đợt trưuớc khiến câu truyện hấp dẫn.
                     +Cuối cùng kết thúc không đột ngột nhuưng tạo ra đưuợc sự đồng cảm sâu sắc nơi ngưuời đọc.
-Chất hoang đưuờng kì ảo cuối truyện hình nhuư cũng làm tăng thêm ý nghĩa phê phán đối với hiện thực: dù oan đã đưuợc giải nhưung ngưuời đã chết thì không thể sống lại đuược  Do đó, bài học giáo dục đối với những kẻ nhưu Trưuơng Sinh càng thêm sâu sắc hơn. Ngoài ra còn phải kể đến nghệ thuật tạo tính kịch trong câu chuyện  mà yếu tố thắt nút và gỡ nút của tấn kịch ấy chỉ là câu nói của một đứa trẻ 3 tuổi (Bé Đản). Qua đó thể hiện sự bất công vô lí đối với ngưuời phụ nữ trong xã hội ấy.
-Về ngôn ngữ: Lời văn biến ngẫu, dùng nhiều điển tích- câu truyện có kết cấu cổ kính hơn.
-Xây dựng tình tiết: thắt, gỡ, mở nút, cách kể truyện sống động, giàu kịch tính tập trung làm nổi bật nỗi oan của Vũ Ngọc- gây xúc động
-Xây dựng nhân vật Vũ Ngọc: Nguười phụ nữ có phẩm chất, tưu duy tốt đẹp- đại diện cho nguười phụ nữ xưa- đại diện cho nỗi bất hạnh gông xiềng mà xã hội tạo ra cho nguười phụ nữ.


B. CÁC DẠNG ĐỀ:
1. Dạng đề 2 hoặc 3 điểm
Đề 1:
Ý nghĩa của các yếu tố kỳ ảo trong "Chuyện người con gái Nam Xương".
Gợi ý:
a. Mở đoạn:
- Giới thiệu khái quát về đoạn trích.
b. Thân đoạn:
- Các yếu tố kỳ ảo trong truyện:
+ Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.
+ Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp, gặp lại Vũ Nương, được xứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế.
+ Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến đi mất.
- Ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo.
+ Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của nhân vật Vũ Nương: Nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.
+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện.
+ Thể hiện ước mơ về lẽ công bằng ở đời của nhân dân ta.
c. Kết đoạn:
- Khẳng định ý nghĩa của yếu tố kỳ ảo đối với truyện.
2. Dạng đề 5 hoặc 7 điểm
Đề 1 : Cảm nhận của em về văn bản "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ.
*Gợi ý
a. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
- Nêu giá trị nhân đạo, hiện thực và nghệ thuật đặc sắc của truyện.
b. Thân bài:
1. Giá trị hiện thực:
- Tố cáo xã hội phong kiến bất công, thối nát ...
+ Chàng Trương đang sống bên gia đình hạnh phúc phải đi lính.
+ Mẹ già nhớ thương, sầu não, lâm bệnh qua đời.
+ Người vợ phải gánh vác công việc gia đình.
- Người phụ nữ là nạn nhân của lễ giáo phong kiến bất công.
+ Vũ Thị Thiết là một người thuỷ chung, yêu thương chồng con, có hiếu với mẹ ...
+ Trương Sinh là người đa nghi, hồ đồ, độc đoán -> đẩy Vũ Nương đến cái chết thảm thương.
+ Hiểu ra sự thật Trương Sinh ân hận thì đã muộn.
2. Giá trị nhân đạo
- Đề cao, ca ngợi phẩm hạnh cao quý của người phụ nữ qua hình ảnh Vũ Nương.
+ Đảm đang: Thay chồng gánh vác việc nhà...
+ Hiếu thảo, tôn kính mẹ chồng ...
+ Chung thuỷ: Một lòng, một dạ chờ chồng ...
3. Giá trị nghệ thuật:
- Ngôn ngữ, nhân vật.
- Kịch tính trong truyện bất ngờ.
- Yếu tố hoang đường kỳ ảo.
c. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị nội dung của truyện.
- Truyện là bài học nhân sinh sâu sắc về hạnh phúc gia đình.
C. BÀI TẬP VỀ NHÀ:
1. Dạng đề 2 hoặc 3 điểm:
Đề 1: Viết một đoạn văn ngắn (8 đến 10 dòng) tóm tắt lại "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ.
* Gợi ý:
          - Vũ Nương là người con gái thuỳ mị, nết na. Chàng Trương là con gia đình hào phú vì cảm mến đã cưới nàng làm vợ. Cuộc sống gia đình đang xum họp đầm ấm, xảy ra binh đao, Trương Sinh phải đăng lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con. Khi Trương Sinh về thì con đã biết nói, đứa trẻ ngây thơ kể với Trương Sinh về người đêm đêm đến với mẹ nó. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiệc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi, khiến nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn. Khi hiểu ra nỗi oan của vợ, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho nàng.
2. Dạng đề 5 hoặc 7 điểm
          Đề 1:  Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ.
* Gợi ý:
a. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
- Vẻ đẹp, đức hạnh và số phận của Vũ Nương.
b. Thân bài:
- Vũ Nương là người phụ nữ đẹp.
- Phẩm hạnh của Vũ Nương:
+ Thuỷ chung, yêu thương chồng (khi xa chồng ...)
+ Mẹ hiền (một mình nuôi con nhỏ ...)
+ Dâu thảo (tận tình chăm sóc mẹ già lúc yếu đau, lo thuốc thang ...)
- Những nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương.
+ Cuộc hôn nhân bất bình đẳng.
+ Tính cách và cách cư sử hồ đồ, độc đoán của Trương Sinh.
+ Tình huống bất ngờ (lời của đứa trẻ thơ ...)
- Kết cục của bi kịch là cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.
- Ý nghĩa của bi kịch: Tố cáo xã hội phong kiến.
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm.
b. Kết bài:
- Khẳng định lại phẩm chất, vẻ đẹp của Vũ Nương.

- Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

Về trang chính - Inluon.net

0 comments Blogger 0 Facebook

Post a Comment




 
Diem chuan tuyen sinh ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|Travel - Du lịch
Top